Chương 05: Bán lâm sản
Anh chén sạch ba quả óc chó, ăn no căng bụng, trong lòng cũng bớt hoảng loạn.
Trong không gian thì ngoài hạt dẻ với óc chó, mấy cây dương mai, đào dại kia… quả rụng từ năm ngoái giờ cũng thành phân bón hết rồi, có tìm cũng bằng thừa. Thôi, về nhà đã.
Ra khỏi không gian, anh quay lại con dốc vừa rồi. Nhìn quanh chẳng thấy ai, ngay cả mấy người đào rau dại lúc sáng cũng biệt tăm. Chắc chỗ này rau dại bị vét sạch rồi, có muốn bới cũng chẳng ra.
Ăn no, có sức đi đường, tốc độ của anh nhanh hơn hẳn lúc sáng. Đi bộ hơn một tiếng thì về tới ngoài cổng Đông Trực Môn, sát Nhà máy Cán thép số Ba, khu phố Cổ Lâu, ngõ Nam La số 97 – cái sân tứ hợp viện nhà anh ở.
Cái sân này dài thườn thượt, chia làm hai dãy. Vào từ ngoài cổng là nhà Trương đại gia, người đông như chợ: hai con trai đã lập gia đình, con lớn Trương Quế Hồng sinh hai đứa, con thứ Trương Quế Hoa cũng hai thằng cu, còn con gái Trương Quế Anh thì lấy chồng, con nó cũng năm tuổi rồi.
Kế đó là nhà Từ nãi nãi, cũng “con cháu đầy đàn” chẳng kém gì.
Nhà thứ ba là Bạch đại gia, con trai cả Bạch Đắc Quang cưới vợ xong đẻ liền hai cô con gái. Bà con dâu Chu Hiểu Vân vì thế suốt ngày bị cha chồng ghét ra mặt.
Cuối dãy trước là Phương đại gia, nhưng con cái ông bà ấy đi làm xa, ít khi về.
Trong hậu viện, đầu tiên là nhà Trịnh đại gia, cũng đông đúc chẳng kém.
Kế tiếp là vợ chồng Tưởng Văn – Triệu Vân Lệ, công nhân nhà máy thép giống ba mẹ anh.
Sát bên là Diêu nãi nãi – hơn sáu mươi, sống một mình, quanh năm chẳng thấy bà con thân thích. Trong viện ai cũng bảo bà là “hộ nghèo tiêu chuẩn”.
Cùng dãy cuối mới tới nhà anh – Lý Hữu Phúc.
Giữa trưa, sân vắng hoe. Trẻ con trong viện trước kia đông nghịt, giờ thì hoặc đi học, hoặc bị bố mẹ lôi theo làm việc, hoặc ở với ông bà, chẳng còn đứa nào chạy rông.
Anh vốn cũng đi học ở trường Tiểu học Nhị Lý Trang, nhưng năm nay vừa tốt nghiệp cấp một là nghỉ luôn. Thầy cô đói đến mức đứng bục giảng còn run, lấy đâu ra tâm sức dạy. Học trò thì lười tới lớp vì đường xa, đi đi về về tốn sức mà cũng chẳng được no hơn. Ở nhà nằm ườn ra, chí ít còn đỡ hao calo.
Thời này đâu phải hậu thế “người ta vận động để khỏe”, mà ngược lại, càng ít nhúc nhích càng tốt, tiết kiệm từng hạt cơm. Anh nghỉ học cũng chẳng lạ, cả đống đứa trong làng cũng vậy.
Đi ngang qua nhà Diêu nãi nãi, anh liếc vào: cửa sổ đóng im ỉm, chắc bà lại ra ngoài đào rau dại rồi.
Tới cửa nhà mình, thấy trong nhà không ai, anh thò tay vào khe cửa lôi chìa khóa, mở cửa chui vào.
Nhà anh tổng cộng bốn gian: một phòng bố mẹ với cô em út, một phòng hai chị gái, một phòng anh với ông anh trai, còn lại là bếp. Thực ra ban đầu chỉ có ba gian, sau mới ngăn tạm thành bốn. Mỗi gian chừng chín mười mét vuông, kê thêm mấy cái hòm gỗ cũ là chật kín, chẳng còn chỗ xoay.
Anh tìm cái gương nhỏ soi thử: thằng nhóc mười ba tuổi, cao tầm mét sáu, mặt mũi cũng tạm được, so với kiếp trước thì nhan sắc nâng lên bảy phần, nhưng gầy trơ xương, tay chân dài ngoẵng như que củi – đúng kiểu thiếu ăn kinh niên.
Anh vác cái gùi, vừa nghĩ trong đầu thì “rào rào” một phát, hạt dẻ với óc chó từ không gian chất đầy gùi. Ngó lại trong không gian, vẫn còn một đống to. Anh liền bớt lại, không đem hết ra một lượt.
Anh cõng hơn nửa gùi hạt dẻ với óc chó, thử thử trọng lượng cũng phải hơn ba chục cân, rồi ung dung đi tới trạm thu mua gần nhà.
Trạm này trước có hai người làm, mà dạo này chẳng ai mang đồ đến bán, thế là chỉ còn mỗi Phương đại gia ngồi giữ. Anh Hữu Phúc cõng gùi bước vào, thấy cụ Phương đang ngồi sau quầy uống trà, rảnh rỗi tới mức gió thổi bay cũng chẳng buồn nhúc nhích.
“Phương đại gia, con tới bán ít lâm sản đây. Hôm nay vận khí cũng không tệ, lượm được khối hạt dẻ với óc chó.”
“Ồ, là thằng Hữu Phúc hả? Gì cơ, mày bảo lượm được nhiều lâm sản á?”
“Cái thằng ngốc này, đã lượm được thì mang về mà ăn, bán làm quái gì? Người ta còn đang thiếu lương thực, mày lại đem bán à?”
Cụ Phương chẹp miệng, lắc đầu như thể đang dạy đời. “Thứ này tao không nhận đâu. Muốn bán thì bảo cha mẹ mày tới, lỡ sau này người ta tới mắng vốn, tao lại mang tiếng.”
Anh cười hì hì: “Phương gia gia, cụ yên tâm. Nhà con vẫn còn nhiều lắm. Chứ nếu có mấy cái cỏn con này thì con dại gì mang tới bán? Cụ tưởng con ngốc chắc?”
Nghe vậy, cụ Phương nghĩ bụng: Ừ ha, thằng nhóc này tuy mới mười ba tuổi, nhưng đâu phải đồ đần. Nó biết tính toán cả rồi.
“Được, mày đã muốn bán thì tao cân cho.”
Anh đặt gùi lên bàn cân, giải thích rõ ràng: “Cụ ơi, trên cùng là óc chó, dưới mới là hạt dẻ.”
Cụ Phương gật gù, ngó qua rồi nói: “Ừm, quả khô cũng khá. Giá thu mua giờ là hai hào rưỡi một cân.”
Thế là cụ lôi ra hai cái bao, chia hạt dẻ với óc chó. “Hạt dẻ mười tám cân, óc chó mười ba cân, tổng cộng ba mươi mốt cân. Hai hào rưỡi một cân, vị chi bảy đồng bảy hào rưỡi.”
Đếm tiền xong, cụ còn soi tới soi lui ba lần mới yên tâm đưa anh.
“Hữu Phúc, đây tiền của mày, đếm lại cho chắc.”
Anh phẩy tay: “Thôi khỏi, Phương đại gia mà còn không tin thì tin ai được nữa!” Rồi nhét tiền vào túi, cõng gùi quay đi.
Nói thật, giá này cũng hời. Hạt dẻ, óc chó mà được hai hào rưỡi một cân đâu có thấp. Thời buổi này, gạo chỉ một hào ba, bột mì trắng cũng mới một hào sáu, mà còn phải có tem phiếu mới mua nổi.
Ra khỏi trạm thu mua, anh tạt sang hợp tác xã cung tiêu bên cạnh, hỏi liền:
“A dì, bên mình có bán lưỡi câu với dây câu không?”
Cô bán hàng nheo mắt nhìn: “Có thì có, nhưng đắt lắm đó nhóc. Mày có tiền không mà hỏi?”
Anh chẳng nói nhiều, lôi ngay bảy đồng bảy hào rưỡi ra quơ quơ: “Thấy chưa, con có tiền nhé!”
Cô bán hàng tròn mắt, thôi thì cũng chịu thua, bèn lôi ra một hộp lưỡi câu với dây câu. Lại đưa thêm cả một ống trúc đựng phao câu.
Anh chọn dây số 8, loại to bản, mua hẳn hai chục mét, thêm hai cái lưỡi câu cỡ bự. Chứ mấy loại dây mảnh mảnh như hồi kiếp trước câu cá diếc thì giờ anh coi thường lắm.
Ngày xưa nghèo, anh toàn tận dụng cái thân ngô hay cắt đế dép làm phao câu. Giờ đã có “hệ thống” trong tay, cần chi mất công làm phao thủ công cho mệt.
Thanh niên và lão chó già, kiếm thêm ít rượu ngồi nhâm nhi là coi như đủ bộ.